XẠ HƯƠNG

Moschus

Chất
tiết ra trong túi thơm đã khô của các loài Hươu xạ đực trưởng thành: Lâm xạ (Moschus
berezovski
Flerov), Mã xạ (Moschus sifanicus Przewalski), Nguyên xạ
(Moschus moschiferus Linnaeus), họ Hươu (Moschidae).
Về
mặt dược liệu, chia ra 2 loại:  Túi
nguyên vẹn xạ hương (Mao xác xạ hương) và hạt, bột xạ hương (Xạ hương nhân).

Mô tả

Mao
xác xạ hương: Túi hình tròn dẹt hay bầu dục, đường kính 3 – 7 cm, dày 2 – 4 cm.
Da ở miệng túi màu nâu, hơi phẳng có lông nhỏ, mịn, màu nâu xám hoặc màu trắng
mọc dày sít nhau vòng quanh từ 2 phía một cái lỗ nhỏ nằm ở trung tâm. Dưới lông
là lớp da mỏng trong có các tuyến và sản phẩm tiết ra là xạ hương. Túi xạ nặng
khoảng 15 – 45 g, có khi nặng tới 60 g, 60% là chất xạ hương. Mặt kia, có màng
da màu nâu hơi pha màu tía, không có lông, hơi có vết nhăn, sợi cơ có tính đàn
hồi. Dùng kéo cắt ra thấy lớp màng da giữa có màu nâu, hoặc nâu xám, trong
suốt, lớp màng da trong cùng màu nâu, bên trong có chứa hạt hay bột xạ hương
(xạ hương nhân) có lẫn một ít biểu mô bong ra (ngân bì). Chất tương đối mềm,
mùi thơm đặc biệt.
Xạ
hương nhân của Hươu xạ hoang dã: Chất mềm, có dầu, nhuận, xốp. Dạng hạt bên
trong gọi là “Dương môn tử”, hình cầu, không đều, đường kính 3 mm.
Mặt ngoài màu đen tím, sáng bóng, dầu nhuận, hơi có vân. Mặt bẻ có màu nâu thẫm
hay nâu vàng. Dạng bột thường có màu nâu hoặc nâu vàng, có lẫn ít biểu mô bong
ra và lông nhỏ.
Xạ
hương nhân của Hươu xạ nuôi: Hạt hình dải ngắn hoặc hình khối không đều. Mặt
ngoài không phẳng, đen tím hay nâu thẫm, có dầu hơi sáng bóng, có lẫn một ít
lông và biểu mô bong ra, hương thơm ngát khác thường. Vị hơi cay, hơi đắng pha
mặn.

Định tính

A.
Dùng kim đặc chế có rãnh máng gọi là ” tào châm” cắm vào miệng lỗ túi
mao xác xạ hương, quay kim một vòng, lấy xạ hương nhân ra để quan sát kiểm
nghiệm ngay:  Xạ hương nhân nở dần lên
trong máng tiêm, phồng lên trên mặt máng, gọi là “mao tào”.  Xạ hương nhân nhuận dầu, mặt xốp, không có
góc nhọn, hương thơm ngát, không lẫn vật lạ như sợi lông và không có mùi  khác thường.
B.
Lấy một ít bột Xạ hương nhân, để trong lòng bàn tay, cho thêm nước cho mềm, vê
thành khối rồi ấn nhẹ ngón tay  lên trên,
xạ hương tan không dính ngón tay, không bám vào tay  hay kết lại thành khối.
C.
Lấy một ít bột Xạ hương nhân, cho vào chén nung, đốt. Lúc đầu hạt nứt ra sau
chảy và phồng lên tựa hạt châu, mùi thơm ngát toả ra, không khét như mùi thịt
và lông cháy, không bốc lửa, hoặc không xuất hiện đốm lửa. Sau khi nung xong,
cắn còn lại màu trắng hoặc màu trắng xám.
D. Bột Xạ hương nhân có màu nâu hoặc nâu vàng, soi
kinh hiển vi thấy:  Nhiều hạt vô định
hình  tập hợp thành khối trong suốt hoặc
trong mờ, màu vàng nhạt hay nâu nhạt. Trong khối có tinh thể không đều, hình 8
cạnh hay hình trụ vuông, nằm rải rác hay tụ lại, có giọt dầu tròn, đôi khi thấy
có sợi lông nhỏ và biểu mô bong ra.
E. Thả bột Xạ hương nhân vào nước sôi, bột tan
ngay, mùi thơm toả mạnh, nước có màu hơi vàng, không có cặn.
F.
Lấy 0,1 g Xạ hương nhân, thêm 10 ml ethanol loãng (3 phần ethanol (TT) với 5
phần nước), đun hồi lưu trong cách thuỷ 15 phút, lọc. Lấy 3 ml dịch lọc cho vào
cốc cao 3 cm, đường kính 3 cm, trên miệng cốc treo một băng giấy lọc 20 mm x
300 mm, nhúng một đầu giấy lọc vào dịch lọc, để trong 1 giờ. Lấy giấy lọc ra,
để khô ở nhiệt độ phòng, đem quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 365
nm, thấy phần trên của giấy lọc có huỳnh quang vàng sáng, phần giữa có huỳnh
quang màu lơ tím, đôi khi cả 2 phần trên và giữa của giấy lọc đều có huỳnh
quang màu vàng sáng đến vàng lục (xạ hương nhân của con Nguyên xạ).

Tạp chất

Xạ
hương nhân: Không có lông hoặc có ít hoặc lẫn rất ít lông của mao xác xạ hương. Soi kính hiển vi: Không được lẫn tạp chất
và biểu mô động vật khác hoặc thực vật.
Chất màu
Quan
sát dưới ánh sáng tử ngoại  ở bước sóng
365 nm không được có dải huỳnh quang  nâu
đỏ và tối hoặc các dải huỳnh quang sáng bóng khác.

Độ ẩm

Lấy
0,3 g dược liệu, làm khô 24 giờ trong bình hút ẩm bằng phospho pentoxyd (có hút
chân không), độ ẩm không được quá 35%.
Tro toàn
phần 
Không
được quá 6,5% (Phụ lục 7.6). Dùng 0,2 g Xạ hương nhân. 

Chế
biến 

Xạ
hương của hươu xạ hoang dã thường thu hoạch vào mùa đông và mùa xuân. Sau khi
săn được hươu xạ, cắt lấy túi thơm, phơi âm can gọi là Mao xác xạ hương. Mổ túi
thơm, trừ bỏ da bìu được Xạ hương nhân.
Xạ
hương của hươu xạ nuôi: Lấy Xạ hương trực tiếp từ trong túi thơm ra phơi âm can
hoặc để trong dụng cụ làm khô thích hợp đến khô được Xạ hương nhân.

Bảo quản

Để
nơi khô, mát, trong bao bì  kín, tránh
ánh sáng, tránh sâu mọt.

Tính vị,
quy kinh

Tân,
ôn. Vào các kinh tâm, tỳ.

Công năng,
chủ trị

Khai
khiếu, tỉnh thần, hoạt huyết, thông kinh, tiêu thũng, chỉ thống. Chủ trị: Nhiệt
bệnh, tinh thần hôn ám, trúng phong, đàm quyết 
khí uất bạo quyết, trúng ác hôn mê (chân tay lạnh ngắt, mê man đột
ngột), kinh nguyệt bế tắc, hòn cục, khó đẻ, tử thai, thượng vị đau dữ dội, ung
thũng, tràng nhạc, họng sưng đau, sưng đau do sang chấn, đau tê bại liệt.

Cách dùng,
liều lượng

Ngày
dùng 0,03 – 0,1 g, dạng  hoàn tán. Có khi
dùng bôi ngoài da với lượng thích hợp

Kiêng kỵ

Phụ
nữ có thai không được dùng.

Tài liệu dẫn: 2002: Dược điển Việt Nam III